Chả có gì phải buồn

fairly-nuts-detail

Tôi đang ngồi ăn hũ kem Ben and Jerry’s vị fairly nuts cùng với ly cafe chồn.

Hũ kem này được mua từ hôm kia mà nhâm nhi hoài chưa hết. Phải nói việc mua hũ kem này là một thành công nhỏ trong suy nghĩ chật vật của bản thân. Lần nào vào siêu thị nhìn hũ kem này cũng nghĩ”Ái chả đắt quá, ăn kem Carte d’or hoặc kem siêu thị thôi”, “ái chà kem ngọt lắm, ăn lại mập ú thù lù”. Cứ hai cái suy nghĩ ấy quanh đi quẩn lại mà lần nào cũng buông tay. Hèn, hèn, hèn lắm. Vậy tại sao lần này tôi lại mua? Đầu tiên tôi cầm hũ kem lên vào nghĩ “3.8 euros cho 1 hũ kem, chứ có phải 6 euros như mình vẫn tưởng đâu, chỉ bằng 1 cái amorino ăn nhoằng 5 phút, còn đây mình ăn được 5 ngày”. Sau đó lại nghĩ tiếp ” Kem vị hạt mà, ăn hạt là tốt lắm, chẳng béo đâu”. Thế là trong những tháng ngày thất nghiệp, tôi đã bỏ tiền ra ăn hũ kem mà mình đưa lên đặt xuống bao lần trong những ngày tiền rủng rỉnh.

Thừa thắng xông lên, tôi mua thêm 2 cái bàn chải để tiện chải trong nhà bếp khi tối con đi ngủ không dám làm phiền (phòng tắm nằm trong phòng ngủ mà). Tôi mua thêm cái cắt móng tay mới, đẹp đẽ, gọn gàng, bén sắc, sao cứ phải chịu cái cũ đã mòn quẹt. Tôi mua thêm cái chổi mới quét nhà. Ăn hàng ăn tiệm được, mua quần mua áo được, đi du lịch xa gần được, mà những thứ nhỏ bé ấy lại cứ tần ngần là sao? Con người kể cũng lạ thật. Có thể bỏ vài trăm euros mua vé máy bay, vài chục euros mua cái váy tự nhiên thích mà không thể bỏ 4 euros mua cái cắt móng tay, cứ tặc lưỡi cái cũ vẫn dùng được. Vì sao phải chi li một cách xuẩn ngốc và vô lý đến chừng ấy? Cứ tiết kiệm nhỏ nhặt như thế thì sẽ mất tiền oan một cách lãng nhách thôi.

Quay lại chuyện ăn kem và uống cafe, quả thực hai thứ đó đang cứu rỗi tôi lúc này. Lúc mà tôi thấy bế tắc kinh khủng.

Công việc, tôi đã đi phỏng vấn được 3 tuần mà chưa có hồi âm. Người ta nói phải đợi, đợi nữa, đợi mãi, tới khi có quyết định cuối cùng. Sau hơn 1 năm ở nhà sinh con, chăm con, nuôi con, tôi mới gom đủ dũng khí làm cái CV, tung cái CV, và thấp thỏm. Công ty gọi điện, phỏng vấn lần 1 qua, lần 2 qua, lại thấp thỏm. Gặp ai cũng hỏi chuyện, gặp ai cũng phải kể tôi đã thi cử và khoái thi cử ra sao, tôi đã đợi và không khoái việc đợi thế nào. Chồng tôi cũng vậy, anh đợi kỉ lục 5 tuần rồi. Cả hai chúng tôi cũng ngồi trên đống than âm ỉ. Đợi nó bùng lên là cả hai sẽ cùng nhau dọn nhà tới vùng mới, mua chiếc xe đạp hàng ngày cùng nhau đạp xe đi làm. Một viễn cảnh đẹp hơn phim. Bây giờ thì phim chưa bấm máy lên cả hai ngồi nhà, hục hặc nhau việc chăm con, dọn nhà, thấy uể oải niềm tin và rã rời hi vọng.

Thẻ cư trú, chúng tôi đã nộp 1 thời gian chưa thấy trả lời.

Viết lách, tôi kể chưa nhỉ, tôi được vào top 3 cuộc thi văn học Đoàn Thị Điểm với tập du kí tập hợp từ blog này. Top 3 đồng nghĩa với việc có 1 quyển sách sắp ra đời. Giấc mơ cuối cùng cũng thành hiện thực sau 7 năm chăm chỉ. Có điều tôi viết email xin chỉnh tên bản thảo thì không 1 lời hồi âm, kết quả top 3 công bố trên FB, chẳng hề đề cập bao giờ sách sẽ được in, và đợi mãi vẫn ko 1 email thông báo chính thống. Tất cả mù mịt như sương mù nước Anh hay sự thiếu chuyên nghiệp của nhà sách làm tôi thấy nản. Thêm vào việc chìm đắm trong Trốn chạy của Alice Munro thật sự làm tôi muốn bỏ việc viết, bà viết tinh tế và thực tế quá.

Sáng nay trời nắng lên, vợ chồng rủ nhau đi chạy bộ. Anh chồng bảo ” Chả việc gì phải buồn em ạ, thoáng lên”. Vậy đấy, giờ thì chúng tôi không nhìn về phía trước nữa, chỉ dủng dẳng với hiện tại. Ở nhà là sống cho hiện tại, đi làm là sống cho tương lai mà. Nhân dịp còn được ở nhà thì hãy vui vẻ. Bắt đầu tự việc uống cafe lại cho đỡ nhớ mùi. Mỗi bưã nấu 1 món mới mẻ, kiểu fushion thì tốt, như việc nấu canh chua từ đầu cá hồi với Rhubab hoặc rau salicorne (loại rau đặc biệt ở gần biển mà mùa này mới có) thay cho me hay sấu. Nhưng đôi khi cũng nên giảm nhẹ việc ăn uống, chả cần hì hụi vài tiếng trong bếp cho một mâm vài món, cứ thủng thẳng vợ chồng con cái đi chơi rồi về bỏ lò mì tươi với courgette, gà, và kem tươi, sau đó phủ thật nhiều mozzerella là Lucie đã mê mệt. Tranh thủ nhiều thời gian xem nhạc thiếu nhi, đọc sách, tập đi cùng con. Con siêu lắm, mới hơn 10 tháng đã tự bước đi 10 bước. Tối tranh thủ viết nhật kí và vẽ cho con rồi xem bộ phim về tuổi già để không sợ hãi sự phũ phàng của thời gian. Ngày nắng đẹp là cả nhà lại rồng rắn ra ngoài, đi đâu cũng được, miễn là cảm thấy thoải mái, về nhà có gặp hàng xóm cứ vui cười, không ái ngại họ đánh già vợ chồng thất nghiệp. Suy cho cùng họ cũng chả để tâm, việc gì mình phải để ý.

Hũ kem Ben and Jerry’s đã đi gần tới đáy. Một hộp kem sắp cạn nhưng một cuộc sống đang được lên đầy.

Posted in Cafe sáng | 1 Comment

Cap Frehel – hơi thở Ireland

13092139_10153417469577007_5024586525330977470_n

Chúng tôi đang trên đường về lại Rennes. Mưa đã bắt đầu nặng hạt. Hai em bé đã thiu thiu ngủ. Người lái xe uống lon tăng lực cho tỉnh táo. Không ai nói gì cả. Người và vật trôi dạt trong cơn uể oải buổi chiều. Tôi nói “Chắc chúng ta phải nói gì không thì anh Hưng ngủ mất”. Minh cười nói “Chúng ta nghe nhạc đi”. Phong bảo để anh mở. Minh nói đúng rồi nghe nhạc của anh Phong đi. Tôi bảo “Vậy chắc lại nghe James Blunt hoặc Jonny Cash”. Anh chồng bị bắt thóp quay lại hỏi “Vậy em muốn nghe gì?”. Mình nghe bài gì mà… rồi ư ử dạo nhạc cùng vài từ sót lại trong trí nhớ sau sinh. À From Clare to here.

Theo đúng phong cách quen thuộc, Phong bật những bài hát khác, một vài bài hát Ireland chuyên vang lên trong các quán bar. Tôi lại bồng bềnh trong những cơn mộng mị ngắn. Bỗng tiếng Minh vang lên “Bài này thật hợp cảnh”. Tôi mở mắt ra, hai bên đường cây xanh ngắt, hoa trắng đã nở nhiều, mưa vun vút trên cửa kính, những chiếc ô tô chạy ngược, vài ngôi nhà mái ghi ướt át,  dập dờn trong tiếng nhạc “It’s a long way from Clare to here”. Cuối cùng cũng tới bài hát theo yêu cầu, quả là một chặng đường dài để được nghe lại nó, quả là một chặng đường dài để về lại Rennes, từ Cap Frehel – nơi làm tôi nhớ tới vực Mohel, tới Ireland và bài hát này quá đỗi.

Buổi sáng hôm đấy là ngày thứ 3 chúng tôi ở Bretagne. Sáng ra anh Hưng hỏi “Nay mình đi đâu hỉ?”. Hôm qua đã đi Cote sauvage theo đúng yêu cầu của khách, cái yêu cầu giản đơn và duy nhất để khách bắt tàu xuống vùng đất này. Yếu cầu được hoàn thành rồi thì cả chủ và khách đều bơ vơ không biết làm gì. Tôi nói “Mình đi Cap Frehel nhé” với nỗi lo phát âm Frehel sao cho đúng chuẩn Pháp. Anh Hưng search một hồi rồi phán đẹp đó. Vậy là chúng tôi lên đường đi Cap Frehel vào một ngày trời chẳng được nắng ráo lắm. Thực ra chẳng phải tự nhiên tôi lôi ra được cái tên đó, mới cách đó vài bữa Minh gửi cho danh sách 10 bãi biển đẹp nhất vùng Bretagne, thì vô tình trong đó có nói bãi cát trắng Frehel và khi google thì tôi lại phải lòng cái Cap Frehel bên cạnh.

Cap Frehel thực ra không quá xa Rennes, chừng 100km, đi khoảng hơn 1h là tới. Cap Frehel khá gần Saint Malo và xí xớn tới biên của vùng Calvados, bằng chứng là trên đường tới Frehel chúng tôi đã thấy đảo nhỏ và pháo đài của Saint Malo cũng như những cửa hàng rao bán cidre táo đặc trưng của vùng Calvados. Chúng tôi không rẽ vào cả hai và không thấy có gì tiếc nuối cả. Tôi chỉ tiếc là hôm qua khi dạo chơi vùng Morbihan đã không ghé vào Carnac, nơi có những tàn tích đá được đánh giá như Stonehenge của Pháp, mà một lần xem tivi tôi đã thấy, đã tìm hiểu, đã muốn đi mà xa xôi và khó khăn quá. Cũng do xem tivi, chương trình thiên nhiên trên kênh Art8, tôi mới biết ở Pháp có những vực biển ngoạn ngục tới vậy, nơi không chỉ hùng vĩ mà còn phong phú đời sống của hệ động thực vật, thật là muốn được một lần khám phá. Thật là  muốn có một cái ô tô hoặc  có bạn bè có ô tô, bởi đó là cách dễ dàng nhất để tới được Cap Frehel.

13082697_10153417457782007_8774688825284391237_n

Khi xe dừng, mưa cũng dừng và gió thổi lộng. Gió chẳng kiêng nể một ai, cứ thổi vù vù vào áo mẹ,mũ con. Lucie được ra ngoài, được gió thổi bay tóc thì khoái chí lắm, cười không thôi. Em vừa cười vừa huyên náo, Susu cũng vậy. Ba Phong địu Lucie còn mẹ Minh đẩy chị Susu. Hai người còn lại là thợ chụp ảnh. Chỉ mới bước xuống xe mà đã thấy hứng khởi bởi ngọn hải đăng đồ sộ và thú vị với hình dáng vuông vức, chứ không trụ tròn như thường thấy. Cả đoàn ngắm nghía rồi tiến ra sau ngọn hải đăng – giống như 1 cánh cửa mở ra vậy, người ta bước ra khỏi ngôi nhà chật hẹp để đến với thế giới bên ngoài rộng bao la. Sau ngọn hải đăng là một sự choáng ngợp, một sự choáng ngợp khổng lồ đâm xéo ra biển. Địa hình ở đây đẹp mắt đến sửng sốt. Người ta như bị thôi miên, cứ bước tới phía trước, ra gần mép vực vào khoảng trắng của trời và đất để có thể chiêm ngưỡng được toàn bộ khối kì vĩ này.

Trên đường ra mép vực, người ta đi chậm rãi từ từ trên con đường nhỏ ghép từ những viên gạch, bởi những vùng đất màu đỏ xung quanh đã bị thôn tính dần bởi một loại cây bụi lùm nằm áp sát mặt đất, có cành đan chéo khăng khít để tránh gió bão. Loại cây có dạng tròn nhìn xa như đám rêu khổng lồ,  nhìn gần như những nấm mộ gió. Chúng sống kiên định và khẳng khái giữa khí hậu khắc nghiệt vùng biển. Hàng ngày chúng nhìn xuống vực để ngắm những con sóng bạc đầu. Vực cao thật cao, sóng vỗ vào tung bọt cao lắm mà cũng chưa tới nửa. Hàng ngàn năm biển lao vào vào núi tạo ra những bức tường gạch, chạy song song, cái ngắn cái dài, cái chìm vào biển cái nhô lên, cái nhẵn nhịu cái xù xì mà càng đi xa người ta càng thấy nó tráng lệ. Mỗi lần đi xe thêm một bước chúng tôi lại xuýt xoa “Chỗ này mới đẹp, chỗ kia không là gì”, giống như thấy một cô gái có khuôn mặt đẹp đã thú vị sau ra xa thấy toàn thân cô ấy cũng đẹp thì vui không gì bằng.

13083135_10153417469912007_4534082462041141053_n (1)

Susu đòi đứng lại chơi xếp đá thành từng chồng ở ngọn hải đăng nhỏ ở gần đầu vực. Ba mẹ phải ở lại chiều. Lucie chưa biết gì nên được ba mẹ tha lôi đi qua phía bên kia hải đăng. Ở kia giữa biển có cái mỏm nhọn lên như con tàu chuẩn bị rẽ sóng lao lên, có người thì lại nhìn thành con tàu đang chìm vào lòng đại dương. Mỗi cách nhìn sẽ cho thấy người ta sống tích cực với cuộc đời thế nào. Ở gần bờ cũng có một mỏm đá mà hình như tháp chàm, trên đỉnh nó trắng toát như sơn đổ lên, mà thực chất là phân chim hải âu. Tầng dưới của tháp là một loại chim khác màu đen nhỏ, còn dưới chân tháp sẽ là cá, cua, ốc, và nhiều sinh vật đang trú ngụ. Một hệ sinh thái thứ thiệt phân cấp y như xã hội chúng ta. Những tháp chàm với dáng vẻ tròn tròn nhìn hiền lành, đẹp đẽ nhưng không mang lại cảm giác choáng ngợp như ở phía kia của vực. Cũng như những cây bụi ở phía này lên hoa vàng tươi tắn, không còn làm người ta liên tưởng tới những ngôi mộ, mà nghĩ về  sự sống của một thảm hoa vàng rực rỡ mùa xuân trên đỉnh này. Có lẽ khác với Cliff Mohel là nơi người ta luôn muốn tới để tự tử, ở Cap Frehel người ta phải tới để hiểu mình may mắn thế nào.

13010894_10153417424972007_4993573582919977531_n13076621_10153417470207007_4303130225465054831_n

Trưa đó chúng tôi dừng ở Alain Audineau, nơi vừa là siêu thị hải sản vừa là nhà hàng ngoài trời ở Port à la Duc. Họ nói họ có huitre bắt được ngay ở cái đầm ngoài kia, thế là chúng tôi tới thưởng thức đặc sản. Một đĩa tôm ghi ngọt lịm, một ít tôm đỏ cũng ngọt, ít ốc biển boulot ăn với mayonaise tự làm, vài con hàu loại 2 tươi rói vắt chanh, ít bánh mì ăn kèm bơ Bretagne nổi tiếng, ly rượu vang trắng của vùng, chỗ ngồi đẹp nhìn ra đầm, giá cả phải chăng, tất cả đều hoàn  hảo trừ việc mùa này chưa có con moules và một ít mưa vào phút cuối. Ở Paris bạn phải trả giá gấp đôi mà chất lượng không bằng. Thảo nào người bán hàng nói “Dù mùa này Bretagne mưa nhiều nhưng khách du lịch vẫn tới, chủ yếu là dân Paris đi nghỉ”. À hóa ra chúng tôi cũng thật thức thời, sống như dân Paris thứ thiệt vậy. Tuy nhiên dân Paris thật ghen tị với dân Bretagne bởi cảnh đẹp, hải sản tươi, bãi biển cát trắng mùa hè (chúng tôi đã nhìn thấy trên ô tô, quả thật rất đẹp, hơn bãi ở Nice hay Marseilles), hạt dẻ thơm ngon mùa thu (cô giáo tiếng Pháp của tôi hay mời), thứ bánh quy sables ăn rất vừa miệng, và sự nồng nhiệt hiếu khách.

13092054_10153417470127007_9055526988297867533_n (1)

 

 

 

 

Posted in Du mục, Thức dậy cùng gà trống Gaulois | Leave a comment

Thiền phượt

3481357924_222f6b7647

Albert Kahn garden

Một hôm anh chồng tôi bảo”Này đọc xem, thằng bạn anh viết hay phết”

Mình nghĩ bụng ” ái dà, vợ viết chả bao giờ đọc, giờ lại đọc ai thế?” cơ mà phải phép vẫn ghé mắt qua xem. Qủa là hay thật, chỉ là 1 cái status vài dòng mà bao quát thấu đáo cái sự nghiệp đi phượt. Anh đó là dân chính gốc phượt, đi khắp nơi thì nam chí bắc, mỗi lần ra đi là bỏ việc, bỏ người yêu, rồi rong ruổi trên con xe máy cũ xì, đến đâu làm việc đó, khi thì làm người trông xe, lúc lại làm hướng dẫn viên du lịch, toàn dẫn tây đi những tuyến hiểm không ai dám đi, có lẽ vì ngấm đủ trải nghiệm mà đúc kết được những điều hay thế.

Đầu tiên là việc hãy xem thường việc du lịch. Hãy cứ nghĩ du lịch chỉ như xách xe máy ra ngoài hóng gió. Chẳng cần câu nệ hành lý, sắp xếp công việc, lo lắng gia đình, thích là lên đường, nhẹ nhàng như thể chiều tới ra bờ Hồ ăn kem. Nghĩ như thế thì việc ra đi nhẹ nhàng, vui thích, không bị áp lực hay mệt mỏi. Tôi cũng muốn làm thế lắm mà sao làm hoài không được. Khi đi làm tiến sĩ, mỗi lần lên đường lại lo lắng nào là công việc ngổn ngang, lời thầy văng vẳng, paper viết chưa xong, rồi quần áo giầy dép sao cho đẹp đẽ hợp cảnh, mỗi ngày 1 bộ. Có đợt tôi đi chuyến Bắc Âu với con bạn, mình đi vác cái valy 10kg thấy đã nhiều mà tới nơi thấy nó vác nguyên 25kg chỉ cho 1 tuần. Trong đó áo khoác vài cái, quần vài cái, váy cũng vài cái, thêm vài đôi giầy, vài cái khăn, cứ vài cái thế mà lên 25kg, xách vẹo cả người, để đảm bảo đủ ấm và đủ đẹp trên hình. Con gái sao mà cực quá vậy, mặc dù biết tới nơi du lịch thế nào cũng hứng chí mua thêm, khi thì cái váy, khi thì mũ, khi thì  vài đôi giày, lúc lại vòng, mà valy vẫn cồng kềnh phát mệt, lần nào qua cửa Ryanair cũng nơm nớp lo.

Sau này khi không còn đi học, ở nhà nghỉ ngơi, đi chơi thì lại lo em bé trong bụng, quần áo đủ ấm, đô ăn đủ no, thuốc bổ đủ dưỡng chất rồi hoa quả, sữa, socola kèm theo. Giờ có em bé bồng tay thì phải lo đủ sữa, bỉm, thuốc bôi da, dầu tràm, sữa tắm, vitamin D, đồ ăn vặt, đồ chơi, quần áo đẹp, quần áo ấm, quần áo body, ti tỉ thứ, vậy mà còn lo thiếu. Riêng em nhỏ là 1 valy to, như hồi về VN còn phải bê nguyên cái ghế và cái máy xay nấu. Đấy việc đi du lịch chưa bao giờ nhẹ nhàng tựa cánh chim, cứ gánh gánh gồng gồng qua bao bụi đường. Thế nên khó mà làm được như lời anh bạn nói, nhưng điều thứ hai thì có thể, rất khả thi.

Điều thứ hai, anh ngộ ra đó là nhiều khi đi hóng gió cũng có thể coi là đi du lịch. Cứ chạy ra tháp Chàm ở Quy Nhơn là có thể coi mình đến xứ Champa, mà chạy tới hàng bún đậu mắm tôm thì cũng có thể nghĩ mình đang ở giữa lòãnng Hà nội. Tôi vỗ đùi đánh đét, hay quá, đó chính là điều mình cần làm bây giờ, khi mà việc đi du lịch xa đang nhiều gánh nặng, không vì lo cho con nhỏ thì cũng vì lời ông bà kêu gào sao con nhỏ mà vẫn ham chơi. Có dễ không khi nhìn những điều cũ kĩ với con mắt tò mò nhiều đam mê. Cũng khó như đòi hỏi ông chồng lâu năm phải nhìn vợ như thiếu nữ ngực trần nằm dài trên bãi biển. Làm sao để “tương kính như tân” đúng là quá khó, bởi theo thời gian có những điều quan trọng cũng bị xem nhẹ dễ dàng. Như tôi sống ở Paris mà nhiều khi quên mình đang được ở nơi diễm lệ bao kẻ mơ ước, để ghen tị với người bạn vừa tới Đài Loan lập nghiệp hay kẻ khác qua nước Úc xa xôi.

Paris là một chiếc hộp thần kì, mở mãi không thấy hết bất ngờ. Nếu tới Parc de Sceaux vào tháng 4, ngồi dưới vườn hoa anh đào nở rực, uống một chén trà mạn tưởng là trà Nhật, ăn miếng chè lam ngọt dẻo tưởng là mochi, thì có khác gì mình đang tới vườn đào ở Washington hoặc tớ hẳn Kyoto. Còn nếu muốn tinh thần Nhật Bản hơn thì tới Albert Kahn Japanese garden nơi có hồ sen, nhà gỗ, vườn tỉa, và một chén trà Nhật buổi chiều. Ở Albert Kahn thì bạn cũng có thể tận hưởng một khu vườn kiểu cách Anh Quốc, giống như khu vườn trong khuôn viên của nữ hoàng Marie Antoinnette ở cung điện Versaille. Cơ mà tinh thần phớt Ăng lê lại tới với tôi nhiều nhất khi đứng nướng chân gà bên cái lò BBQ đặt dưới Pont Anglais ở vùng Vitry ngoại ô Paris. Cây cầu này được phỏng theo cây cầu London bridge nên đương nhiên hình ảnh London kiêu sa lại lồng lộng trước mắt trong tiếng hát của Adele phát ra từ cái loa Bose nhỏ xíu. Thật hài khi mà Someone like you của Adele quay tại cầu Alexander III ở Paris, còn mình nghe nó lại nghĩ tới  cây cầu London.

Quay lại chuyện hoa đào nghĩ tới Washington, nói tới Mỹ là một nỗi đau khó nguôi bởi cái US dream chưa bao giờ tắt. Đọc Xuyên Mỹ, Trên đường, Tôi Charley và nước Mỹ thì tôi lại càng muốn đến mảnh đất đó, mảnh đất mà Dương hay mấy cậu chàng người Pháp đi về đều bảo: Tôi không thích nước Mỹ. Đó là những kẻ mê nét cổ điển, thảnh thơi, lười biếng, thủ cựu, sâu sắc của châu Âu. Còn Thúy, Tuyết hay chồng tôi đều nói mình thích nước Mỹ với sự náo nhiệt, sức trẻ, hiện đại, dễ hòa nhập và hơn hết là một tinh thần luôn khám phá và làm mới mình. Một mảnh đất cho người ta nhiều cảm xúc và ý kiến trái chiều như thế thật đáng để tìm hiểu. Tôi chưa tới và cũng chưa biết bao giờ tới. Hôm nọ khi ngồi trên oto đi trên một con đường lên dốc xuống dốc ở Ivry sur seine tôi đã nghĩ mình đang đi tàu điện ở San Francisco. Còn khi nhìn thấy tượng nữ thần tự do thu nhỏ tại đảo Ile de Cygnes ở Paris, tôi đã nghĩ chỉ đi chút nữa là tới Times square, đặt mua 1 vé broadway để tận hưởng một vở nhạc kịch đúng nghĩa. Tự do, dân chủ, bác ái, và luôn chịu thay đổi, người Mỹ đã chấp nhận một tổng thống da màu, vậy kế tiếp họ sẽ chịu một nữ tổng thống tài giỏi như Hillary Clinton hay một tên hề thú vị như Donald Trump?

Nếu không phải Nhật, không phải Mỹ, thì tôi muốn tới đâu? Tôi muốn đi Tibet để ngắm bầu trời xanh thật xanh ấy, để xem cuộc sống trên núi, để xem con mắt thứ ba trên những ngôi đền, để tìm về với cội nguồn của loài người. Tôi và chồng tới một quán ăn Tibet, ở đó họ trang trí các bức ảnh Tibet, cở quạt, bàn ghế, và dĩ nhiên Dalai Lama. Chúng tôi được phục vụ các món ăn chay kiểu như dumpling hay momo nổi tiếng của Nepal, ăn cũng thú vị nhưng không thực sự hợp khẩu vị. Tôi thích quán Thái lan hơn, nghe cái thứ tiếng lạo xạo như ngoài chợ và thưởng thức tomyum cùng vài loại gỏi Thái. Trong các quán ăn châu á tôi thích quán Bong nhất, ở đó có món nướng Hàn quốc rất ngon và người phục vụ đều chuẩn Hàn dễ thương và lịch sự, lại nhớ thời tới Seoul. Ra hàng Kebab gọi Kebab cùng nước Ayran để ghi nhớ lại những ngày ở Thổ, hay tới hàng pizza yêu thích tên Pink Flamingo gọi cái pizza Hochiminh có lạc, nước cốt dừa, gà uống kèm 1 chai Pepperoni lạnh và coi như mình đã trở lại Ý.  Thực ra về lại Ý cũng không phải là khó, khi ngay cả tới thế giới Nghìn lẻ một đêm cũng thật dễ dàng.

Nếu muốn tới xứ đạo Hồi thì chẳng cần đi đâu xa, chỉ cần sáng thứ 5 hoặc chủ nhật, bước ra khỏi nhà, tới chợ trời cách tầm 500 là đã đủ. Ở đó các mặt hàng hương liệu, quần áo, ngôn ngữ , những người phụ nữ trùm khăn và những người đàn ông bán hàng mồm mép, tất cả đều như trong Grand Bazzar ở Istanbul. Tôi đã nghĩ mình lại được dạo bước ở thành phố xinh đẹp ấy. Còn khi đi vào quận 13, nghe tiếng Trung Quốc ì xèo, gọi một đĩa vịt quay thơm giòn, nhìn cung cách làm việc chột giật của những người sửa điện thoại hay cửa hàng bán nước hoa không rõ nguồn gốc là có thể tưởng tượng mình ở Bắc Kinh rồi, trừ việc không nhiều khói bụi bằng. Tôi đang đợi ngày hè, người ta đổ cát ra bờ sông Seine để đưa con ra đó nghịch, sẽ nghĩ rằng mình đang về với biển.

Việc di chuyển bây giờ nhiều khi không cần đôi chân biết đi xa mà chỉ cần một trí óc biết tưởng tượng. Hãy tận hưởng những gì mình có.

 

Posted in Du mục, Paris của tôi | 1 Comment

Côte sauvage – con đường hoang dại

13076658_10153417458247007_2204456706883666213_n

Đợt này vợ chồng tôi đang rảnh rỗi tột độ. Hợp đồng làm việc cũ đã hết, việc mới chưa có, nên cứ ở nhà nghỉ ngơi. Sáng sáng cùng nhau đưa con ra công viên, chiều chiều lôi nhau đi chạy bộ, tối đến chồng ngồi làm dự án cuộc đời, vợ xem phim đọc sách. Cuộc sống đúng như trong mơ. Một giấc mơ mà không ai nỡ tỉnh dậy vội, chỉ muốn ngủ thêm thêm nữa, để tận hưởng tới bến.

Năm nay nước Pháp dành sự ưu ái của mình cho vùng Morbihan, khi mà ở đâu cũng trưng biển quảng cáo du lịch vùng này nói riêng và Bretagne nói chung. Trên trang bán vé tàu SNCF cũng list ra những bãi biển đẹp nhất của Bretagne thật khiến người ta nao lòng. Hành trình về với Bretagne là điều không thể tránh khỏi. Đợt này tàu Ouigo đang giảm giá chỉ có 10e/1 chiều Paris – Rennes nên vừa nghe Minh rủ “Về đây nhà Minh chở đi chơi”là vé tàu được đặt ngay, cùng 1 giấc mơ đơn giản – cho tớ đến Quiberon, nơi tự nhận mình là tận cùng của thế giới. Tận cùng thế giới sao được cơ chứ khi nó có gió, có biển, có hoang dại. Tận cùng của thế giới phải là thành phố bị cô lập bởi bức tường cao thật cao khiến chim còn không bay qua được. Ở đó khi người ta bước vào phải chia tay chiếc bóng và bỏ lại quá khứ sau lưng, không phải thế sao? Murakami đã miêu tả nó rất hay trong “Xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới”. Chẳng có gì là đúng với Quiberon hay Bretagne cả, ngoại trừ cái thời tiết lạnh lẽo và xám xịt.

Thời tiết èo uột là đặc sản của Bretagne nhưng ngày cả nhà tới thì nắng tưng bừng ấm áp, khiến tôi còn tưởng mình bước vào mùa hè Marseilles. Người người đổ ra quảng trường tận hưởng nắng và bia. Những ngôi nhà half-timber có kết cấu gỗ đan chéo như đan rổ nhìn xưa cũ và lạ lẫm hơn hẳn kiểu nhà này ở vùng Alsace. Mái ghi của những ngôi nhà đã trũng xuống như muốn sập, nhưng thân nhà vẫn kiên định, vững chân trong danh sách đặc sản của thành phố này. Rennes thủ phủ của Bretagne thật giản dị, không cầu kì hoa trương với những công trình bự chảng mang tính biểu tượng như voi máy của Nantes, Eiffel của Paris, hay giáo đường của Strasbourg. Rennes dung dị nhận mình chỉ là thành phố của sinh viên, khi nó cưu mang trong mình vài trường đại học lớn. Ở Rennes có lẽ đặc sản là các em gái trẻ đẹp và cây xanh khắp nơi, cả hai đều thật mát mắt. Vì ngắm các em gái đó mà tập đoàn 4 người lớn, 2 trẻ nhỏ chúng tôi phải hòa ngay vào một quán bar. Sự óng ánh thơm lừng của cốc Duchess Annes làm nắng thêm chiều xuân rực rỡ.

Lucie rất thích Rennes vì em được vào tham quan nhà trẻ của chị Su, tối về em được thoải mái bò quanh và có chị Su để sáp lại. Em còn được ăn phô mai ngon lành rồi lên giường ngủ ngoan cả đêm. Sáng hôm sau khi mọi người yên vị trên xe ô tô đi chơi, thì em chễm trệ 1 ghế riêng thiu thiu tiếp. Chặng đường tới Quiberon cũng nhờ vậy mà nhẹ nhàng hơn vì nửa thời gian em ngủ say, nửa thời gian sau em chỉ quậy 1 chút. Khi xe tới nơi, ba đưa em xuống, giữ tay cho em đi lại 1 tí là em đã cười toe toét, khoe cả 6 cái răng trắng tinh. Trưa đó, cả nhà vào nhà hàng, ban đầu em cũng thật hợp tác ăn puree khoai tây, ăn cá Cabilaurd của mẹ và khoai tây chiên của ba, nhưng đến khi no là em ầm ĩ, đòi ra khỏi ghế. Tất nhiên chị Su 17 tháng tuổi ngồi đối diện em cũng ương ngạnh không kém, cũng ầm ĩ phá phách, và chỉ chịu yên khi được gỡ cho 1 con cá sardine nướng. 2 bạn nhỏ khiến bố mẹ vừa thương vừa giận. Thương làm sao khi sau bữa trưa các bạn được đặt chân lên cát và mặt đứa nào cũng phấn khởi vô cùng.

Bãi cát ở Quiberon rất mềm mịn nhưng không trắng xóa xiêu lòng. Gió thồi rất mạnh còn mây nặng tựa nghìn cân đang ngự trị trên đầu. Một con tàu nhỏ đặt trên bãi cát để vài ông già  kể chuyện vưà diễn kịch với tụi trẻ con. Su lon ton đến tìm đồ chơi cát còn Lucie bước đi khẳng khái về biển với sự trợ giúp của ba. Gió càng thổi e càng tươi cười hớn hở. Hôm qua trời đẹp bao nhiêu thì hôm nay trời Bretagne bấy nhiêu. Gió, mưa nhỏ và xám xịt. Cả nhà chỉ chơi ở biển cát 1 chút rồi lái xe đi tìm cote sauvage nổi tiếng.

13072167_10209168779842621_627048374_o

13051682_10153417458522007_7508046315517688450_n

Cote sauvage -con đường hoang dã nổi tiếng này là thứ khiến người ta lao tới Quiberon bất chấp thời tiết. Ngày xửa ngày xưa Jesus có một chiếc bánh táo ngon lành, thơm phức và tròn vo. Một ngày Poseidon tới, nhìn thấy, thèm thuồm và đem lòng muốn ăn lén. Khi Jesus quay mặt đi, Poseidon liền ăn vội vàng, mà không dám ăn miếng to sợ bị lộ, chỉ dám ăn ven đường diềm. Poseidon ăn vòng quanh nham nhở khiến chiếc bánh không còn là hình tròn mà đã trở nên méo mó với những vết răng chằng chịt. Theo thời gian, chiếc bánh trở nên hóa thạch, họ gọi là Quiberon, còn dấu ấn răng trở nên nổi tiếng, họ gọi đó là Cote Sauvage  với nhiều địa hình đá khác nhau dọc theo biển Atlantic.

13072839_10153417443392007_628887241446644202_o

 

Xe dừng lại ở một điểm bâng qươ trên con đường. Cả lũ xuống thâm nhập vào con đường Cote Sauvage trứ danh. Kế bên đường cái là những bãi cỏ cao xanh mướt, đổ rập xuống theo gió, mang cảm giác của một Đồi gió hú đơn độc và bi thương. Sau bãi cỏ là những lớp lang đá nằm xéo bị biển cắt gọt lộ ra. Những hình hài khác nhao được sóng biển kiến tạo nên một cách tình cờ mà đẹp mắt. Chỗ này có hình dạng là một giếng sâu nước xanh thẳm, xung quanh là những miếng đá được bào dạng tròn, nằm xếp lên nhau, tổng thể như chiếc miệng đang há ra để lộ răng cửa. Chỗ kia đá lại nhô ra như cái mỏ con thú mỏ vịt vục đầu uống nước. Địa hình ở đây đang bằng phẳng với các vỉa đá to nhẵn, đằng xa đá đã cứng nhắc, khô khốc với những phiến đá nhọn hoắt chọc lên trời. Những tạo hình khác nhau được mường tượng trong con mắt của người chiêm ngưỡng: con cá heo đang nhảy lên khỏi mặt biển, tàu titanic đang chìm vào lòng đại dương, những khúc gỗ trôi theo dòng, con chó máy nằm ọap trong nước cạnh con rồng hungary gai góc. Có quá nhiều truyền thuyết có thể sản sinh ra để miêu tả hết sự độc đáo và phức tạp của Cote sauvage.

13082561_10153417458312007_2991526412673286610_n

13041240_10153417444522007_715461928782353106_o

13091551_10153430789052007_911441140_o

Thế nhưng đá không phải là điều làm tôi mê nhất ở đây. Tôi thích hình ảnh cỏ úa lẫn trong cát bụi. Màu cỏ, màu cát đều vàng ấm mà mang lại sự mênh mông, cô độc, lạc lối và bất tử. Cảm giác như đi mãi đi mãi cũng không bao giờ thoát ra khỏi cái bao la cỏ cát. Cảm giác như mình sẽ phải đơn côi đối diện với những gió những mưa trên con đường lang thang. Cát quấn vào chân còn cỏ chạm vào tay níu kéo người ta không cho rời. Có con, có chồng, có bạn bè, có quá nhiều cho một hành trình, vậy mà sự miên man của cỏ cát vẫn khiến con người ta mông lung là thế. Trong một giây phút nào đó lại thấy mình bâng quơ như cánh chim hải âu ngoài khơi xa. Cuộc đời mình có điều gì đó còn dang dở.

“Lòng người lạ lùng, lòng người nhớ những điều viển vông.”

13128696_10153430788952007_573793908_o

13062890_10153417447082007_4226223565345932930_o

 

Posted in Du mục, Thức dậy cùng gà trống Gaulois | Leave a comment

Ước mơ làm vườn

image12

Anh chồng tôi lúc nào cũng có giấc mơ: anh muốn làm nông dân.

Khi tôi sắp hoàn thành PhD thì mới phát hiện ra 1 trang web xin đi làm nông. Đại loại mình sẽ tới các trang trại, làm việc cho họ và được bao ăn trong vòng 1 đến 2 tháng. Các công việc rất đa dạng từ cắt cỏ, tưới cây, tới chăm ngựa hoặc phụ sửa nhà sửa cửa, trông em bé, tới dạy các em học. Tôi hào hứng nói với chồng: “Bảo vệ xong em sẽ đi vài tháng. Em sẽ xin đi làm vườn trồng cây cho thoải mái. Cái ghế là đường tắt dẫn tới thiên đường mà em còn muốn sống dài lâu.”. Chồng thấy thế thì ủng hộ lắm “Em đi đi rồi Noel anh xuống giúp”.  Anh chồng bảo “Chắc cả 2 đứa cùng đi đi, chứ em thế này ai thuê, phí cơm phí gạo”. Vậy là hai vợ chồng lao vào tìm việc phù hợp. Chồng mê đi nuôi ngựa, vợ mê đi phụ trang trí mấy nhà nghỉ vùng núi.

Trước khi bảo vệ tầm 3 tuần tôi phát hiện mình có bầu. Tôi nằm vật vã ở nhà, ngủ và ngủ. Chuyện làm vườn đi vào dĩ vãng. Đến cả công việc mơ ước là làm ở quán bia Frog and British Library được gọi cũng không vác xác đi được. Thực ra làm ở quán bia cũng không có gì thú vị, ngoài chuyện được học tiếng Pháp và  món tôm chiên vô cùng ngon, cứ nghĩ đi làm sẽ kiếm được ít về cho chồng và em ăn nên mới ham. Cả cái ham muốn làm 1 chuyến châu Mỹ cũng tan tành. Trong năm cuối PhD, tôi đã viết từ du lịch cho Thegioidienanh, autocar, review phim cho Cafebiz, tới văn hóa, điện tử, thời trang, du học cho Truyền hình Hà Nội, rồi ra sách, gom gom cũng đủ cái vé 2 chiều đi Peru và tiền ăn cho 1 tuần, vậy mà cũng không thể tiêu (thực ra Tết vừa rồi về đã tiêu bằng sạch).Mọi giấc mơ con đổ sụp, cho một cuộc đời lớn ra đời.

Mỗi mùa xuân, anh chồng lại ươm ít hạt giống. Năm ngoái anh ươm hoa thủy tiên và cà chua. Chẳng có gì lên cả. Anh mua cây dâu tây về trồng, đợi con ra đời sẽ chơi. Con ra đời thì ba mẹ cũng được ăn vài lứa quả. Qủa ngon vô cùng, nên nó làm dậy lại ước mơ năm nay sẽ trồng nhiều nhiều dâu cho Lucie tự hái. Trước khi về ăn Tết, anh cũng hì hụi gieo củ hoa thủy tiên xuống đất. Đến khi vợ chồng con cái sang lại paris vào cái ngày ủ dột, mà ai cũng buồn thiu ấy thì những bông hoa màu vàng nhỏ nhoi ấy thực sự đã làm bừng lên chút sức sống trong người. Năm nay hứa hẹn sự làm vườn sẽ thành công.

Vấn đề là nhà không có đất. Cái vườn dưới nhà là vườn chung không thể tùy tiện trồng. Vợ chồng nghĩ đủ kiểu xem phải làm sao để thỏa giấc mơ nông dân. Vùng chúng tôi sống là zone 3 của Paris, gọi là Choisy le roi, nghe rất vương giả. Sáng sáng tôi hay đẩy xe cho con ra công viên và đi dọc trung tâm. Một hôm hai mẹ con đang lang thang thì tôi thấy biển chỉ dẫn vào Permaculture jardin, tôi tò mò đi theo thì thấy đó là một khu vườn nhỏ xinh, có nhiều luống rau và các hộp xốp. Về nhà lên mạng tìm thông tin mới biết Choisy le roi có dự án vườn chung. Ở một số chung cư và công viên, họ khoanh vùng một mảnh đất cho dân tới cùng làm vườn. Nghe đến là thú vị, anh chồng tôi thì chẳng thiếu gì hạt giống, chỉ thiếu đất để làm. Tôi thảo ngay cái thư xin làm vườn chung, thậm chí còn xin làm dự án J’adopte un abre, tức là tôi nhận nuôi 1 cái cây. Chính quyền sẽ phát cho người nhận 1 cái cây cao bóng cả, và họ có nhiệm vụ trồng hoa dưới gốc cây để làm đẹp cho nó. Dễ thương hết sức, hi vọng Lucie sẽ có một cái cây làm em.

Ngoài ra 2 vợ chồng cũng tính cho con tham gia sự nghiệp hái lượm và từ thiện. Ở đây có tổ chức gọi là ACAC, cứ mỗi chủ nhật, sau 2h chiều họ lại tụ tập lại các gian hàng rau củ ở chợ trời để xin những rau củ ế. Sự haỏ tâm của người bán hàng sẽ mang lại những sạp rau mới cho người nghèo. Rau quyên góp được mang ra quảng trường gần đó, để người nghèo, người vô gia cư, người thu nhập thấp tới lấy. Thậm chí người tàn tật hay có con nhỏ sẽ được mang rau tới tận nơi. Nếu rau củ không được cho hết thì mang về làm phân bón cho các khu vườn rau chung. Ý tưởng tiết kiệm đó làm tôi nhớ bà cô giáo dạy tiếng Pháp.

Cô đã 65 tuổi, ngày ngày nhận tụi trẻ con Việt theo bố mẹ qua đây tới nhà học tiếng Pháp, ăn ngủ, chơi cùng cô. Những đứa sinh viên mới sang còn bỡ ngỡ thì cô tới tận nhà. Cô đạp xe tới, trên đường đi, cô thấy người ta vứt đồ liền nhặt lại, khi thì khăn tay, khi thì đồ  trang trí nhà, khi thì ly cốc. Thứ nào thích thì cô để lại, còn đa số cô mang về làm sạch rồi mang ra Emaus quyên góp để họ bán hoặc cho những người nghèo. Cô nói “Sao bây giờ, họ có thể lãng phí vứt đồ như thế nhỉ, đồ không dùng của người này có thể là đồ dùng của người khác”. Cái cách cô lọ mọ nhặt và rửa đồ làm tôi ngạc nhiên. Nước Pháp giàu có có lẽ vì người ta không sống phí phạm. Kiểu sống lãng phí và thể hiện giàu có chỉ dành cho những kẻ nghèo thích chứng tỏ. Đằng sau cái áo veste đắt tiền lại là cái áo may ô rách toạc.

 

Posted in Cafe sáng | 2 Comments