Cuộc sống ở quảng trường

Trong 1 thành phố, cuộc sống luôn rộn rã nhất ở quảng trường và chợ.

Ở chợ, cuộc sống luôn là cuộc sống thật, nơi những mặt xấu ác đều được phô bày. Còn quảng trường lại khác, nó giống như một sân khấu lớn, người ta tới, diễn, hạ màn, người khác sẽ lên. Mỗi ngày hàng chục, hàng trăm vở diễn ra đời với hàng trăm, hàng nghìn nhân vật. Quảng trường đa sắc, phong vị như chợ nhưng có gì đó chau chuốt, làm màu hơn, bởi cái không gian mở ấy dành cho mọi người – diễn và xem.

Tôi bắt đầu ý thức về cuộc sống nơi quảng trường khi lần đầu tiên xem bộ phim Nouvo Paradisco Cinema, đó là một bộ phim Ý thú vị, sâu sắc, và xúc động nhất. Ở nơi làng quê, Giaculdo, cuộc sống của người dân phơi bầy nơi quảng trường trung tâm. Đàn bà nhuộm vải, đàn ông xén lông cừu, lũ trẻ được tắm dưới vòi nước, những ông già ngồi hút thuốc, chơi xổ số và xem phim. Ở nơi đó, giấc mơ của họ bé con con như những ngôi nhà gạch, giấc mơ lớn nhất là trúng một phiếu lô tô, hoặc là chủ nhân của cái quảng trường đó. Đó là bộ phim phản ánh thực tế nhất cuộc sống vui nhộn của nước Ý không chỉ ngày xưa mà ngày nay cũng vậy. Cuộc sống của họ vẫn quây quanh quảng trường.

Sự thực thì cuộc sống ở quảng trường hiển hiện từ lâu. Đâu đó nơi Tượng Đài Lý Thái Tổ chỗ bọn trẻ vẫn rủ nhau trượt patin và nhảy hip hop hay Nhà hát lớn khi đêm về lại tụ tập. Chỉ là tôi vô tình đi qua, vô tình không nhận thấy, giống như kẻ dạo chơi ở thành phố của mình.

IMG_0643  IMG_0645

Một buổi sáng, tôi đứng chờ tram ở quảng trường Statuto trong lúc nửa tỉnh nửa ngái ngủ thì một sức mạnh vô thức nào đó đã mở toang vẻ đẹp sống động của quảng trường. Có lẽ nhờ tiếng đập cánh của con bồ câu bé nhỏ mà con mắt trần trụi được đối diện trực tiếp với vở diễn sau bức màn dày đặc ngày nào. Hôm đó, có gió thổi và từng con bồ câu đang bay lên trong nắng sớm. Chúng bị náo động tiếng bước chân vội vàng chạy theo những chuyến xe lướt qua những ngôi nhà kiến trúc Liberty. Đá trên đường sáng bóng, ấm chầm chậm theo mặt trời. Ngày xưa khi Torino còn là thủ đô của vương quốc Savoie, có ông vua đã bắt lá đá toàn bộ khu vực này, để có thể nghe được rõ âm thanh vó ngựa khuya trên đường. Cái âm thanh sống động đó  mang hơi thở vồn vã của không gian vài sự gấp gáp của thời gian. Tôi hiểu sự gấp gáp ấy rõ ràng khi những ngày cuối năm học ở Polito tới ngày một gần.

Đáng lẽ tôi phải cảm nhận được cuộc sống sinh viên vô ưu, sung sướng của mình từ những ngày còn ở Louvain la neuve. Ngôi làng nhỏ bé ấy có cái quảng trường Place de l’universite thật rộng. Ngày đầu thu, những chùm hoa màu hồng, màu trắng rủ xuống mỏng manh trên bức tường gạch. Sinh viên từ đâu kéo tới đông rộn ràng. Họ đứng, ngồi, tắm nắng, chạy nhảy đợi giờ học. Ngày thứ 7 các xe tải chở đồ ăn kéo tới, lập thành chợ trời tấp nập. Ở đó có cái xe bán nem của chú người Việt Nam mà ngày đầu Alex tới đã chụp ngay gửi khoe tôi. Còn ngày chủ nhật, sân khấu này là của lũ trẻ con hướng đạo sinh. Dù nắng dù mưa, chủ nhật nào bọn trẻ cũng tụ tập tại đây, tới chơi các trò đuổi bắt. Cứ thế, dù thành phố nhỏ bé này có thể heo hút ngày cuối tuần, nhưng quảng trường Place de l’universite không bao giờ vắng vẻ.

Không vắng vẻ nhưng tất nhiên nó không thể sầm uất, đông đúc như San Marco của Venezia. Quảng trường chim bồ câu là tụ điểm chính của thành phố nước,  được bao quanh bởi các nhà hàng cứ hàng đêm lại có piano đánh ngoài cửa, nên có lẽ chẳng đâu lại đông như ở đây, nhất là vào dịp Carnivale tháng 2. So sánh với San Marco có lẽ quá vô lý, chỉ nên coi quảng trường làng ấy như một nửa của Place Republique ở Paris là được rồi. Kì lạ là Paris to đẹp là thế nhưng ít có quảng trường nào thật sự là trung tâm, trong khi Bruxelles bé nhỏ có cả một Grand Place nhộn nhịp và trộm cướp. Ở Paris người ta có thể tụ tập ở Luxembourg, kéo tới dọc sông Siene, đứng trước Notre Dame, ngồi ở Trocadero, ngồi bệt ở bậc thang Opera, khoanh chân trước Pantheon, thư thái trên đỉnh  Sacre  Coeur, đôi khi nằm xõng xoài ở Champs de mar ngay chân Người đàn bà thép, nhưng lại không có nơi nào gọi là quảng trường chính. Place Republique có lẽ là quảng trường hiếm hoi mà người ta có thể kéo tới, ngồi lại, trước khi có thể tìm thấy niềm vui ở đâu đó như ném đá trên kênh Saint Martin giống Amelie Poulain.

Điều này cũng là sự khác nhau chính của Pháp và Ý. Không chỉ đơn giản một nơi  Boulangerie bán bánh mì khắp nơi nhưng kem thì không có, một nơi lại dễ dàng tìm được Gelateria phục vụ kem cả bốn mùa còn bánh mì thì không. Ý khác Pháp ở chỗ quảng trường ở Ý nhiều vô kể. Thực ra chê nước Pháp cũng không phải bởi ở Anh hay Bắc Âu cũng đâu có văn hóa quảng trường đặc trưng như người Ý. Người ta tới  hội họp, nói chuyện vui vẻ, không tới mức cắm trại, uống trà, bàn chuyện chính sự như ở Tahir của Cairo, nhưng cũng đông vui như Taskim của Istanbul. Taskim nhộn nhạo, 12h đêm vẫn luôn đầy người, họ ngồi thành từng tốp nói chuyện vang trời. Những quán bán trà đen vẫn mở. Những người phụ nữ áo chùng đen hiếm khi ra ngoài, vậy mà 12h đêm tôi vẫn gặp ở Taskim, thế là đủ hiểu cuộc sống ở Istanbul gắn với quảng trường thế nào.

308931_10150382371045030_1805494499_n

Piazza Castello (Giang chụp)

Cuộc sống người Ý cũng vậy. Có lẽ do cái chất thân thiện, hồ hởi, hòa đồng, thích lang thang, dân Ý mê đường hơn ở nhà. Ngày nắng đẹp, quảng trường Castello – trung tâm Torino luôn đầy tràn các cô gái váy ngắn, những chàng trai quần short, họ đứng nói chuyện và ăn kem. Có thể họ mua vội ở Grom trên con đường mua sắm Garibaldi, hay từ hàng kem sữa chua đối diện Castello  hoặc  những hàng kem cách nhau chỉ vài chục mét trên đường Via Po. Gelato ngon ngọt trên cả tuyệt vời, thật khó cưỡng mà chẳng tội gì phải cưỡng cả. Tôi thích mê kem nocciola ngọt bùi của hạt dẻ hazel nut có màu nâu nhạt và vị Pistachio u xanh mướt. Tới bất kì Gelateria nào, ở bất kì thành phố nào, đó cũng là vị được ưu tiên số 1. Sau đó, sự ưu ái sẽ chiếu tới kem dừa, kem sữa chua, Amarena với quả cherry ướp rượu, Straciatella với cái tên dài như cả thế kỉ có vị bánh quy, rồi kem nutella và tiramisu với vị ngọt thân thuộc. Tất cả nhét và thân ôc quế cho một buổi chiều hè hóng gió ở quảng trường. Đi xa nước Ý, tôi nhớ đắm say gelato và những ngày quảng trường có gió có nhạc ấy.

305471_10150382369420030_1115553604_n 292861_10150382368780030_1016197838_n 221790_1963215927881_3402927_n

Ở quảng trường Castello thường chiều tới có anh  chàng đẹp trai chơi ghita và hát những ca khúc tiếng Anh quen thuộc. Anh hay, rất hay, rất nghệ sĩ luôn là sự yêu thích của Giang. Trong khi ông già đánh accordeon dọc Via Roma một buổi tối mưa đã làm Ly thổn thức. Còn tôi đã xúc động vô cùng khi mặc cho mình ướt nhoẹt, đứng lại nghe một ông già chơi đàn, ông đã hôn tay tôi cảm ơn ở quảng trường San Carlo. Ở Torino, ngay cả đêm nhạc MTV  người ta không mang vào sân vận động mà biểu diễn ngay tại Castello. Castello đông vui, nhộn nhịp, ầm ĩ như khu fan zone của Varsava ngày EuroCup. Hôm đó người dân ở đây tụ tập vui vẻ cùng uống bia, xem bóng đá trước tòa nhà sừng sững như lô cốt – Palace of Culture and Sience. Món quà to lớn của Liên Xô này người Ba Lan chưa bao giờ thích và từng có thời không đón nhận. Thế nhưng như người ta nói: bóng đá và âm nhạc luôn là sứ giả của hòa bình.

Âm nhạc ở quảng trường hiển nhiên như trong bữa ăn phải có pasta của người Ý. Âm nhạc và tranh vẽ ở Navona làm tôi luôn yêu Roma sau tất cả những nóng nực, gồ ghề, bẩn thỉu mà nó mang lại. Tôi thích Navona hơn tất thảy nhưng Popolo, Venezia, hay vòng tay chúa trước Vatican. Navona là Roma, Roma là Navona. Bởi hàng ngày, những nghệ sĩ vẫn tụ tập ở đây, họ hát múa, diễn kịch, mang tranh ra tô vẽ cho quảng trường 4 dòng sông. Ngày tháng 7 ấy, tôi tựa vào vai mẹ liu diu ngủ, tôi biết mẹ thất vọng về Roma lắm, còn bố có lẽ thích sự lộn xộn ở đây.

312516_10150272123462007_6673718_n

Đó là nước Ý, là quảng trường Ý, là cuộc sống Ý. Những quảng trường dù nhỏ xíu, dù chẳng có nổi một bồn phùn nước, dù chẳng có gì ngoài một vòi nước róc rách – mà người Ý vẫn gọi là cái mũi như ở Sperlonga thì vẫn ắp đầy sự sống. Vậy đâu là nơi sống động nhất? Một người Mỹ nói rằng đó là Piazza del Campo của Siena. Thật kì lạ là cái thành phố yên bình, bé nhỏ, ít khách du lịch ấy lại sống động hơn cả, xếp thứ 2 thế giới, chỉ sau 1 quảng trường ở Mexico. Piazza del Campo của Siena có sự khác lạ. Quảng trường này có hình vòng tròn, xây bằng gạch, dốc thoải xuống, giống như một cái lòng chảo, khác hẳn sự phẳng lì, vuông vức, đá lạnh của những người anh em. Có lẽ chính màu đỏ au ấm nóng của gạch, sự hút dốc vào trung tâm đã kiến tạo nên lỗ đen lôi kéo người ta tới đây bất kể lúc nào. Họ nằm, họ ngồi, họ đứng, họ tán dóc, họ cười đùa, họ hôn, họ ôm, họ giằng co, họ cãi vã, họ chỉ không được ăn ở đây. Với cấu trúc giống như một nhà hát ngoài trời, quảng trường Campo lại càng mang cho tôi ám ảnh sân khấu. Nhưng ngoài những người nghệ sĩ, chúng tôi, chúng ta đâu cần phải diễn.

Quảng trường hay cuộc sống này không chỉ để ngắm nhìn, thưởng thức, mà phải lao vào, lao vào, lao vào nó hết mình.

Aside | Posted on by | Leave a comment

Dự cảm những chuyến đi

Salvador-Dali-Girl-Standing-at-the-Window-1925-large-1034380391

Vài ngày trước khi đang chat với hội bạn, thằng Huy del kêu lên “Ông nội tao vừa mất”

Như lẽ tự nhiên, 3 đứa còn lại cũng buồn lây cho bạn. Hiệp bảo “Nay giỗ ông tao”. Tôi nhớ ra hôm trước là ngày giỗ ông nội mình. Còn Hà Gô bảo “Cũng sắp tới ngày giỗ bà tao”. Chúng tôi nói về sự mất mát giống như ngày hội yêu thương. Giống như ông bà của tụi tôi cũng đang gặp nhau, buôn chuyện ở trên kia. Giống như Dũng khùng kể chuyện “Có lẽ ba tôi đang uống rượu với chú Sơn” bởi năm nay ngày giỗ của Trịnh Công Sơn cũng là 49 ngày của Nguyễn Quang Sáng. Có khi nào họ hẹn hò nhau không?ông bà chúng tôi ấy?

Thật buồn vì giờ cả tôi và Huy del đều không còn ông bà nào. Tôi cũng không biết vì sao cứ nghĩ tới điều đó là có thể khóc ngay được. Cứ tưởng tượng khi không còn thứ gì đó thì tiếc biết bao. Chỉ đơn giản như cái nhà cũ không còn được về nữa, nghĩ cũng đã buồn, huống chi đó là ông bà mình. Tôi có thân với ông bà không? Có lẽ không phải khi đã lớn, khi đã biết học, biết chơi, biết thế giới bạn bè .Tôi ít quan tâm và thờ ơ lắm.

Tôi thân với ông ngoại hồi còn chưa đi học. Nhưng cũng như cậu nhóc Sobrah trong Người đua diều buồn bã vì dần quên mặt cha mẹ thì tôi cũng thật buồn khi nói hình ảnh tôi nhớ về ông ngoại chỉ là bức ảnh trên bàn thờ. Qúa lâu, quá xa cho bộ nhớ chỉ dành để nhớ mấy thứ vặt vãnh lá cải. Thi thoảng tôi có nhớ hình ông xẹp lép như bộ xương trên giường. Khi đi học, tôi bám với ông nội nhiều hơn. Người thầy đầu tiên để lại trong tôi hình ảnh vô cùng đẹp của một người bộ đội cụ Hồ. Cuộc đời ông rất viên mãn, khác hẳn ông ngoại. Lừng lẫy là thế nhưng những năm cuối đời, ông gầy đi 1 ít, tóc xoăn hơn 1 ít, miệng hơi hô, chân kéo lê, đái rất khai, lẩn thẩn, cười ngờ nghệch. Khi đó ông rất buồn cười, không có vẻ phúc hậu ngày nào mà xơ xác, buồn bã nhất là sau khi bà nội mất.

Tôi nhớ một hôm. Hôm đó chắc là mùa hè. Bà nội gọi 2 chị em dậy sớm. Bà bảo đánh răng, rửa mặt, ăn mặc đẹp vào. Trong khi 2 đứa còn đang ngái ngủ thì ông và bà lôi ngay ra ngã ba bia. 4 chúng tôi đến tiệm chụp ảnh. Bắt đầu bằng bức hình ông bế tôi, bà bế thằng em, tất cả cười tươi trên nền phông xanh. Tôi nhớ mắt tôi sưng húp, nhắm tịt do vẫn chưa tỉnh, còn thằng em vẫn xinh nguyên như thế. Sau đó ông bà chụp cùng nhau, không ôm eo, khoác vai, mà ngồi trên ghế, lưng thẳng, mắt nhìn thẳng, tay chống thẳng lên đùi. Bà chụp 1 tấm riêng, ông chụp 1 tấm riêng. Ông bà rất hài lòng, lúc về còn mua kem cho ăn nữa.

Bây giờ tôi mới biết lúc đó ông bà đi chụp ảnh truyền thần. Ông bà đã có những tấm ảnh rất đẹp. Khi đó họ còn trẻ, khỏe, vui vẻ, không sợ hãi nhưng luôn dự trước chuyến đi cuộc đời mình.

Tôi luôn thích đi đây đó nhưng đơn thuần chưa bao giờ dự cảm được chuyến đi của mình. Toàn tưởng tượng mình sẽ làm được điều này điều kia nhưng không thể. Tôi đã từng tưởng mình có thể đi Mỹ, đi Nhật, đi châu Phi, thế nhưng mãi vẫn chôn chân tại 1 vị trí. Thỉnh thoảng tôi hơi bất mãn, rồi nghĩ đâu cần phải vội. Mình không thấy được những chuyến đi, nhưng những chuyến đi sẽ tự tìm đến, cách này hay cách kia, lúc này hay lúc khác. Điều tốt nhất bây giờ là ngồi yên, tâp trung tất cả cho công việc thực sự của mình, không loay hoay làm việc này việc kia, nghĩ đi đây đi đó. Hình như, mình đang bắt đầu đi vào sự ổn định nho nhỏ. Ổn định không phải là ngồi nhà, ổn định chỉ là dừng lại, uống tách trà, ăn bánh đa, lấy sức mà bước đi tiếp, đi dài và đi xa hơn.

Posted in Cafe sáng | Leave a comment

Con chim hót trong vườn tôi

 trinhcongson

Vào một buổi trưa nắng oi ả, tôi nằm không thể nào ngủ được, một bên tai cái quạt con cóc kêu lọc xọc, bên tai kia là tiếng nhạc rền rĩ vang lên từ nhà hàng xóm xa lắc lơ. Trời nóng, nhạc da diết, đó là thứ một đứa trẻ con không bao giờ chịu được. Bỗng “Gọi nắng trên vai em gầy……” vang lên đầy da diết giữa trưa vắng. Tôi lắng nghe chăm chú, chậm rãi, tiếng nhạc leo lắt từ xa, làm tôi quên cả cái nóng nực, cả cái cảm giác khó chịu ban đầu. Năm ấy tôi học lớp 3, lần đầu tiên được nghe Hạ trắng. Lô Thủy với tiếng hát êm dày của mình đã mở cánh cửa đưa tôi vào khu vườn bí mật ấy. Khu vườn của Trịnh.

Với nhiều người, Trịnh đưa họ về trong những phố xa lạ. Họ tìm thấy mình lẻ loi trên những gác mái tiêu điều, trên những đường phố buồn, hay tần ngần đứng bên bờ dậu đợi từng người bước qua đời mình. Từng người tới, tùng người đi, hiển nhiên như những dòng sông phải về với biển. Cái phố ấy dù đìu hiu buồn nhưng vẫn có nắng lên. Nắng chạy dài từ phố thị, về muôn trùng biển khơi, thỉnh thoảng ném chút vui lên Blao buồn bã, rồi về buông thõng qua những con đèo. Nắng len lỏi qua hàng cây, chiếu yếu ớt vào khu vườn hoang tuyệt đẹp. Đó là nơi Trịnh đưa tôi đến, không phải phố xa, đường dài, biển khơi, mà là khu vườn xưa cũ kĩ.

Trong khu vườn ấy, đóa quỳnh e ấp hương, đợi đêm đến lặng lẽ kể chuyện. Trong khu vườn ấy, đóa hồng nhung vội vã tìm tình trong nắng, còn dạ lan cất tiếng ngại ngùng. Trong khu vườn ấy còn có đóa tường vi bị lãng quên giữa muôn loài hoa trắng hồng. Lá non vẫn lên xanh miên man. Dưới tán lá, con sâu nằm ngủ trong quên lãng. Ở ao nhỏ, con cá bống đớp động cây bèo. Với tôi, khu vườn vô hình ấy luôn đẹp, luôn sống động, và trên hết là nó luôn ở đó. Tôi đi lâu, đi xa, đi dài, đi mãi, nhìn lại vẫn khu vườn thấy nằm đó, chờ mình hơn người tình thủy chung. Lúc vui, lúc buồn, mở cánh cửa cũ, tôi chạy vào tìm một góc giữa muôn ngàn hoa lá. Nơi trốn ấy an toàn tuyệt đối, hơn hẳn chỗ núp sau cánh cửa ngày nào. Tôi vẫn ngồi thu lu như khi bé, không để đếm đoàn kiến đi qua, mà để dòng nhạc chảy vào trong mình, nước mắt lặng lẽ chảy ra. Và như thế cây cối thêm xanh.

Sự đắm chìm đôi khi bị đánh thức bởi tiếng chim. Có lẽ đó là một con chim nhỏ, cổ xanh, có tiếng hót như con chim khuyên với cái cánh chấp chới đặc biệt. Con chim xanh của những hạnh phúc, hi vọng, và tình yêu. Con chim ấy khi vui ở đậu cành tre, khi đau lại trốn trong trái tim con người. Ngày nào nó còn về lảnh lót, còn hót giữa đời, ngày ấy tôi còn niềm tin vào cuộc sống này. Nhiều khi tôi thấy cô đơn, thấy hụt hẫng, thất vọng về mình, về cuộc đời, thì lại tìm về tiếng chim thiên đường. Nó có thể vực dậy trong tôi mọi ham muốn, ước mơ và hi vọng dù nhỏ nhoi.  Nghe thật buồn cười khi tiếng chim tâm tưởng lại có sức mạnh đến vậy.

Tôi đã từng hồ nghi điều này. Thực sự âm thanh giản đơn bao lấy những ca từ có tính thiền ấy có thể làm cho tâm hồn người ta trong suốt, nhẹ nhàng. Nghe nhạc Trịnh giống như cuộc cách mạng làm mới lại suy nghĩ và đầu óc. Sau một vũng buồn sẽ lại vui và quên như chưa từng buồn. Ngay cả Trịnh khi nghe tiếng chim cũng phải thốt lên ¨Hôm nay tôi nghe tôi cười như đứa bé¨. Suy cho cùng không ai được phép tuyệt vọng. Chỉ gần như tuyệt vọng, người ta đã phải đứng lên, vượt qua vũng lầy, tìm mình trong sự bình yên, ve vuốt của khu vườn nhiều hương thơm, giống như vòng tay mẹ.

Sau này tôi không còn thấy ngạc nhiên khi nghĩ về buổi trưa ngày hôm đó. Tôi dường như hiểu vì sao Hạ Trắng lại có thể dẫn đường cho tôi vào khu vườn ấy. Câu chuyện về bài hát Hạ Trắng được Trịnh Công Sơn kể lại: ông đã viết nó trong một cơn miên man khi bạo bệnh. Trong cơn mê chiều, ông ngửi thấy mùi hương từ bó hoa ai đó mang tới bên giường. Ông đã đi lạc trong khu vườn mộng mơ của hương thơm, của những chập chờn ảo ảnh, của những hư thực lẫn lộn. Dường như cả cuộc đời, Trịnh vẫn lạc trong khu vườn Hạ Trắng ấy để đi tìm tình yêu cứu rỗi thân phận mình trên cây thập giá đời.

Tôi cũng vậy, vẫn đang đi quẩn quanh trong mê cung mà không bao giờ muốn ra.

Hôm nay ngày mất của Trịnh, 13 năm rồi. Đã lâu tôi không còn nghe nhiều nhạc Trịnh nhưng lần nào nghe miên man. Tôi vẫn nghĩ là do Trịnh hồi trẻ giống hệt bố hay do hình ảnh Trịnh khi già giống hệt ông ngoại mà tôi lại thân quen với ông đến vậy. Tôi đang nghe Hát cho người nằm xuống và chỉ muốn nói rằng¨Người tình rồi quên, bạn bè rồi xa¨ nhưng những người đam mê nhạc Trịnh thì vẫn còn mãi.

large_2155

Posted in Cafe sáng | 2 Comments

Tôi đi chợ

Người ta ai cũng trải qua các giai đoạn: bé, lớn và già. Điều đó tương đương với việc: đi học, đi chợ, và đi chơi. Nhỏ thì phải học cho giỏi. Giỏi để biết cách kiếm tiền đi chợ. Đi chợ để nuôi thân và nuôi con. Con khôn lớn để nhàn nhã đi chơi.

Mỗi giai đoạn chiếm 20 năm là hết cuộc đời. Đi chơi sướng, đi học không khổ, chỉ có đi chợ là mệt mỏi, gian nan. Ý tôi không chỉ ở việc tham gia chợ lao động, kiếm tiền đi chợ, mà thực sự đi chợ đúng nghĩa đã là cực hình. Nay ăn món gì? mai ăn món gì? bố nó thích nhấm gì? mẹ nó muốn húp canh gì? thằng ku ăn gì thì lên cơ?con gái ăn gì để giảm cân? mẹ chồng liệu răng còn khỏe? Cứ thế mỗi cuộc đi chợ là một lần cân não.

Puces de Vanves

Chợ, nghe đã  thấy nhộn nhạo. Từ những chợ lớn như Chợ Lớn, Đồng Xuân, cho tới những chợ nho nhỏ len lỏi theo các đường tàu, hoặc dọc cái ngõ phố Hà Nội đều có đời sống riêng, được tạo nên bởi những tiếc rao hàng, mặc cả, hay số phận những con người ở đó. Như cái ngõ chợ Dịch Vọng nhỏ xíu ấy, cô Thủy bán rau, người còm cõi mới 40 tuổi mà già như 60, có ông chồng nghiện rượu, đã kịp lên chức bà ngoại vài năm rồi. Cô ốm đau liên miên, bán hàng xởi lởi ai cũng thương, cũng cho. Cạnh cô, một người đàn bà bán rau khác, hằn học, ghê gớm, có đứa con gái 15 tuổi bỏ nhà đi, 17 tuổi về bế tay một đứa trẻ. Còn bà hàng bún bị đau lưng kinh niên, vẫn miệt mài ngồi bán, cố gắng trả nợ cho chiếu bạc. Đấy cái chợ nào cũng thế, những lời qua tiếng lại, những lời ong tiếng ve, ghen ghét có, mà yêu thương cũng có.

Ngày bé xíu, cậu vẫn hay đưa tôi ra chợ. Hồi đó, người yêu giờ là vợ cậu có sạp hàng ở đấy. Tôi cũng không nhớ gì nhiều, chỉ nhớ mỗi lần ra, cô hay mua bi zon zon cho ăn. Bi zon zon đựng cho cái phễu giấy, thường cuộn từ giấy viết của học sinh, hoặc giấy báo, phảng phất mùi vanilla. Vị giòn ngon mà tới tận bây giờ còn thổn thức. Ngày xưa dì tôi cũng bán hàng ở chợ. Dì có cái sạp la gim, bán đủ thứ kim chỉ, đá lửa, phéc mơ tuya, cho tới quần áo trẻ em và đồ lót phụ nữ. Cái sạp của dì ở ngay đầu chợ Điện Biên, chỉ cần ra khỏi bãi gửi xe là thấy. Người ta muốn vào trong chợ phải đi qua cái lối hẹp hẹp, toàn mùi quần áo Trung Quốc của sạp dì và sạp bác Tuyết đối diện. Hồi đó, tôi học lớp 1 ở trường tiểu học Điện Biên. Sau giờ học mà mẹ chưa đón, lại hay chạy ra chợ, ngồi đong đưa ở sạp dì, đợi mẹ tới. Dì chịu thương chịu khó mà số mãi không giàu lên được. Không giàu nhưng thảo tính, cháu chắt thích gì là lấy, tới là cho ăn, nên đến sạp hàng của dì rất thích.

Ở chợ đấy, bao nhiêu câu chuyện được truyền miệng nhau về những mảnh đời kì lạ, dang dở, và thiếu thốn. Cuộc sống ở chợ phức tạp, nhiều mùi, nhiều vị, nhiều khi phải tránh xa.

Chợ đa dạng, đa vị, không đâu bằng chợ Ả Rập, có thể ở Grand Bazaar của Istanbul hay Khan Ali của Cairo hay chợ Choisy Le Roi ở Paris. Nhưng tôi không định nói về những khu chợ ấy, tôi chỉ định kể về chợ Châu Âu.

Chợ của người châu Âu không co giãn giá cả như chợ Ả Rập. Hồi đi Fizenre, chúng tôi tới chợ đồ da ở đây và chịu không trả giá được gì. Thực ra cũng có trả giá một chút cho có, nhưng người bán gần như chắc nịch với tiếng hét ban đầu. Dĩ nhiên chất lượng sản phẩm cũng an tâm và xứng đáng với giá tiền. Toscana vốn nổi tiếng với món thịt bò nướng và da bò làm đồ dùng. Chúng tôi đã ăn đĩa bò 40e/1kg ngon lành và mua tới chục cái túi ví to nhỏ đẹp đẽ. Chợ đồ da này có đầy đủ: túi, ví, mũ, quần áo, đều từ da bò thơm lừng, sờ vào mềm cả tay. Có một anh đầu trọc, đẹp trai, cao lớn lại vui tính bán hàng rất duyên, đã giữ chân 4 đứa cả buổi. Anh nói ¨Tao không phải người Ý, tao là người Fizenre thôi¨.

 Anh bán hàng đáng yêu ấy không chỉ bán được rất nhiều ví cho 4 đứa lờ khờ mà còn kịp tán tỉnh Huyền, nháy mắt Giang, và mời cả lũ về nhà ăn tối. Tất nhiên đó chỉ lời ong mật đầu môi mà thôi. Sau này tình trạng ấy lại xảy ra với 4 đứa con gái khác (trong đó vẫn có tôi) khi tới Porto. Chợ trời Porto nằm ngay bên sông Duoro, dưới nắng vàng tháng 9. Ở đó, những sạp hàng đồ thủ công mĩ nghệ và anh chàng khắc vòng tay da đã níu kéo cả lũ hàng tiếng trời. Các em gái thi nhau mua vòng cho bạn, tôi với Giang thì mắc kẹt ở những hàng bán khăn, tạp dề, đồ gốm sứ và con gà trống Barcelos trứ danh. Hàng hóa ở Porto đẹp, rẻ, không như ở thành phố lớn như Paris.

fleamarket-top

 Nếu đi chợ trời ở Paris hay bất kì thành phố lớn nào ở Pháp thì bạn cũng sẽ thấy đồ ăn ở đây còn đắt hơn ở siêu thị. Hoa quả, rau xanh, sữa tươi, bánh mì hay pho mát đều của nhà trồng được, tươi ngon đặc biệt, điều mà khó có thể tìm thấy ở siêu thị nào kể cả ngăn bio. Người Paris sáng chủ nhật khi mà cửa hàng cửa hiệu đều đóng cửa thì họ tìm tới các chợ trời. Chợ trời thường được dựng rạp từ đêm trước, sáng hôm sau tầm 9h ra đã nhộn nhịp người và hàng. Chợ thường chỉ nằm dọc những con đường, không rộng mà thật dài, có khi tới 1 hay 2 cây số.

 Sạp hàng cá tanh tươi: cá trích xanh bóng, cá hồi hồng, cá truc đốm xám, bên cạnh là tôm càng nhọn, cua biển, ốc, sò điệp ướp lạnh trong đá. Ốc hay con sò amande về chỉ cần hấp nhẹ, thái lát cá hồi rồi chan lên hỗn hợp nước tương và dầu olive, hoặc kì công hơn thì mang nướng sốt cam, trong khi đợi thì cho nồi moule lên bếp với cần tây và kem tươi là thành trưa cuối tuần ngon tuyệt. Quầy hải sản bé thôi mà người xếp dài tới cả chục mét và mùi tanh thì lan tỏa cả nửa chợ. Cạnh đó quầy thịt lợn hồng hồng cả thịt tươi và thịt muối. Những hũ thịt đông nấu từ xách bò hay đầu heo óng ánh dưới lớp gel. Pate, mouse và rilette tranh nhau tìm vị trí trên những lát bánh mì.

france-cheese-market

Pate campagne thân thuộc với hỗn hợp lẫn giữa những miếng mỡ và gan hạt lựu, trong khi mouse thì mịn màng như kem, ăn hơi ngán, chỉ quét nhẹ lên bánh mì khô là xong bữa sáng. Rilette thì vẫn còn những xớ thịt như ruốc xen giữa, thi thoảng còn có mùi rượu nồng nồng, ví như loại làm từ thịt lợn rừng Sanglier hay thỏ. Những quầy này còn có thêm mật ong và pho mát đủ loại. Pho mát đông cứng, to như bánh xe, có lỗ bên trong như của Jerry được cắt thành miếng vuông vắn. Pho mát tươi còn ngâm trong nước như đậu phụ. Pho mát dê nồng, pho mát brie để nướng, pho mát dạng kem mềm, pho mát có nấm xanh bên trong, pho mát có mốc đen bên ngoài, nhìn đã thấy vị béo ngậy trên bề mặt răng. Còn mật ong thì đủ màu, tùy thuộc vào từng loại hoa mà mật sẽ đặc như kem hay lỏng như sirop. Tôi thích mật màu vàng nhẹ, đặc như kem của loại hoa li ti gì đó, khi về pha với nước nóng và chanh thì ngon tuyệt.

frenchflowermarketfromwillows95988wheninparisi selling-flowers

Nói về mật ong, lại phải nói tới mứt, cũng trong những hũ thủy tinh nhỏ, ở ngoài dán giấy trắng, tên viết tay.  Mứt cũng đa dạng, mưt quả mâm xôi, mơ, đào, dâu tây, quả vả, những quả rừng tí hin và hay nhất là từ cây Rhubarb, một loại cây thân xốp, lá như lá cải, có vị chua nhưng làm mứt thì ngọt lịm. Mứt đủ màu sắc, chen chúc trên những bàn gỗ xinh xắn. Bên cạnh là gian rau củ đẹp mắt, tất cả tươi rói, cam, vàng, xanh xen lẫn. Người bán luôn tay luôn chân, chào mời, nếm thử, cân đong, đóng túi. Dâu Tây của Pháp có đến chục loại, dâu rừng, dâu mâm xôi, dâu Charlotte, nhỏ xíu, bóng bẩy, đỏ rực, mọng lên, ngửi mùi vừa ngọt vừa thơm mát. Người ta mua về làm bánh, làm mứt, ăn với Chantilly. Hoa đa sắc trong những xô chậu hay bó giấy. Mùa xuân mang tới tulip bảy màu, đồng tiền nhiều cánh, loa kèn chum nụ, cúc đóa lớn, ly thơm, ớt đỏ, những cây hoa li ti tím hoặc xanh nhạt, những giỏ thường xuân, và dương xỉ xanh mướt. Hoa ở chợ thường tươi và rẻ hơn trong tiệm hoa, mọi người thích tới sớm để kiếm những bụi tú cầu chưa bị nhầu cánh.

 Có mùi thơm ngạt ngào của gà nướng chạy bộ nướng lá thơm, mỡ ri rỉ chảy xuống đám khoai tây con cỏn bên dưới. Hàng bên cạnh những chảo to rán nem hoặc samosa ngây ngấy. Đồ ăn từ chín đến sống đều ngon mắt, thơm mũi. Quần áo, giày dép, ngay cả thảm và bàn ghế cũng có. Chợ trời thường cố định tuần 2 buổi sáng, mang cái đẹp đẽ từ thôn quê lên thành phố. Vào mùa hè tôi hay đi chợ trời để mua cherry, chợ ở đường Auguste Blanqui hoặc Avenue d’Italie.  Cherry lúc đó vào mùa, đỏ mọng, ngọt lịm, căng bóng, nên mua ở chợ rẻ hơn siêu thị. Nhất là chợ trời Palazzo của Torino cherry hay cam, tao cũng chỉ một 1e/1kg. Rau củ hay thịt ở đây đều rẻ, nên cứ thứ 7 là kéo xe tới mang về rau xanh cho cả tuần. Chợ thì thích thật đấy, nhưng mỗi lúc tan, mùi hôi lại bốc lên nồng cả đường tram và phía lâu đài cổ của cố đô Savoie.

Chợ trời Paris còn có chợ đồ cũ và đổ cổ. Nổi tiếng thì có chợ ở Saint-Ouen, Vanves, Clignancourt hay Popincourt, còn hầu như ở khu vực nào cũng có những chợ đồ cổ và cũ riêng của mình. Những khu chợ này cũng đông vui nhộn nhịp như khu chợ đồ cũ ở bên ngoài Rome, mà có lần tôi, Giang, em Ngọc Anh đã không ngại khó để tới. Chợ brocante bán từ những thứ to lớn như ti vi, tủ lạnh, tới những thứ tin hin như bông tai. Chợ thường có những đồ khác biệt: nhạc cụ cũ, đồ dùng cũ, đồng hồ, hay quần áo cũ, mà khó có thể kiếm được ở những cửa hiệu mới.  Dĩ nhiên đồ cũ thì rẻ còn đồ cổ thì đắt. Giang có thể kiếm được cái túi chỉ 2 euros nhưng người khác cũng có thể mua đồng hồ giá  cả trăm euros.

Chợ, phải đi chợ. Không phải siêu thị mà phải chợ, bạn mới thấy được cuộc sống đa dạng, phong phú , cơ cực mà vui nhộn phú của cái thành phố bao bọc nó.

Posted in Du mục, Paris của tôi | 2 Comments

KHI KHÍ CẦU BAY LÊN

330129_10150439253477007_103950393_o

Ở Luxor có một việc bạn không thể không làm, đó là bay lên khinh khí cầu.

Nếu ở châu Âu muốn lên khinh khí cầu, bạn phải mất tới vài trăm euros, như ở thung lũng Loire của Pháp, người ta phải chi tới 300e cho 1 tiếng du ngoạn trên không. Thế nhưng ở Luxor, chỉ gói gọn trong 40 euros, bạn đã được lên độ cao 7000m, ngắm toàn bộ sông Nile, thung lũng các nhà vua, những ruộng mía xanh ngắt, và ra về với tấm bằng công nhận: Bạn đã bay lên trời.

Đi Khinh khí cầu ở Luxor đơn giản nhưng cũng không giản đơn. Việc đầu tiên, tụi tôi phải chọn được một hãng hợp lý giá cả và an toàn. Các hostel ở đây thường giới thiệu để ăn hoa hồng nên việc lấy thông tin quá dễ dàng. Chỉ có điều thật khó để biết hãng nào tốt, xấu khi mà các tờ rơi đều đẹp và hấp dẫn. Chọn tạm một hãng vì có thể kì kèo làm giá với anh chủ hostel, cả lũ an tâm ngồi đợi trời sáng, cho chuyến du ngoạn ngắm bình minh. Chuyến du hí trên không này đã xảy ra từ năm 2012, khi tai nạn khinh khí cầu thảm khốc ở Luxor chưa xảy ra, nên lúc đó tất cả vẫn còn phấn khích, hào hứng không chút lo sợ trong người. Nếu mai này quay lại Ai Cập, tôi ngờ là cả 5 đứa sẽ chẳng dám đặt chân vào cái giỏ mây khổng lồ ấy nữa.

Ngày hôm đó thì khác. Ngày hôm đó, cả lũ được đánh thức từ 4h sáng. Sau đó anh tour guide lùa cả lũ ra xe ô tô. Có đến cả chục cái ô tô cũng tụ lại một điểm để đón khách từ các hostel khác nhau. Khách mặt mũi đứa nào cũng bơ phờ, ngai ngái buồn ngủ, dù trong lòng đầy phấn khích. Xe chạy trong bóng tối. Xe chạy qua đường đất bụi. Xe chạy tới sông. Thuyền lúc này đã đậu chật bến. Từng nhóm nhỏ lên thuyền, ở đó có trà bánh bày ra làm bữa sáng, trong cái leo lét của đèn vàng. Mọi người hào hứng, ăn bánh, uống trà, nói về hành trình ngắn ngủi sắp tới, còn anh lái thuyền vẫn chăm chú nhìn vào đêm. Qua sông, tới xe, xe lại tiếp tục chở người băng qua những con đường hoang vu như đi vào sa mạc. Chạng vạng sáng, có tiếng gió len như tiếng khóc của Eos trước xác con ¨Memnon, Memnon¨. Chính vì thế mà ở đây, hai bức tượng khổng lồ pharaoh Amenhotep III trước đền của ông lại mang tên người anh hùng thành Troy – Memnon. Hai bức tượng ghép từ hàng trăm khối đá, đã bị xước mặt, sừng sững trong ánh sáng nhập nhoạng của ngày mới.

418540_10150544845037007_1815060990_n

406563_10150544844732007_584420917_n

Trong ánh nhập nhoạng ấy, có những khí cầu đã bay lên, một vài nằm dưới đất, che một vùng rộng lớn. Những khối lửa được đốt lên, lan tỏa hơi ấm một vùng. Ai Cập những ngày đông thật lạ, sáng lạnh tím môi mà đến trưa thì nắng mồ hôi không toát được. Chút lửa từ những khinh khí cầu chuẩn bị bay làm hồng má, hồng trời. Trên chiếc giỏ to, vài chục người chen chúc, hăm hở cho lần đầu lên cao, theo mặt trời. Khí cầu dần bay lên, tôi hào hứng hết sức. “Ah ah, bay rồi¨. Tôi quay sang lũ bạn cười sung sướng. Khí cầu từ từ, xé tung màn sáng nhờ nhờ. Trời còn màu tím nhạt dịu dàng. Cô bạn quay sang “Máy ảnh nào có thể chụp được đẹp như mắt mình thấy đây?”.

 431367_10150544844537007_1957184273_n 431022_10150544844257007_1925017442_n

Khí cầu bay tới đâu, mặt trời hiện ra đến đó. Trời nhá nhem bắt đầu sáng dần lên. Khối khí đỏ rực hiện mờ mờ từ phía xa, rồi rõ nét qua những cánh đồng mía. Những rặng núi không tên có tuổi cứ nâu dần trong làn sáng.. Mặt trời đi lên từ đất, nằm phía bên kia sông Nile, mang từng lớp ánh sáng trắng, vàng, đỏ cho bầu trời vô sắc. Thế rồi, từ từ, nhẹ nhàng, khí cầu bay lên, đưa mặt trời, quang cảnh sông Nile, nhà cửa, cánh đồng, thung lũng vua, hoàng hậu và người đàn bà quyền lực Hapchepsut vào lòng mắt. Bụi ở đâu bắt đầu bị thổi lên.

422410_10150544844372007_814551960_n 427343_10150544843972007_1655338864_n

Khí cầu bay nhè nhẹ, là là, tưởng chừng như đứng yên tại chỗ. Người điều khiển khinh khí cầu bắt đầu giải thích về các thung lũng. Thung lũng của các vị vua với khoảng 63 ngôi mộ của nhiều triều đại từ 18 đến 20, vẫn đang được khám phá. Nếu như tới Abu Simbel hay Luxor hay bất kì nơi nào cũng thấy dấu vết của Ramset II thì ở thung lũng này là nơi hiếm hoi để thấy ảnh hưởng của con trai ông Ramset III. Mộ của Ramset III vĩ đại còn nguyên vẹn trong lòng núi với những bức vẽ màu sắc tinh xảo. Mộ hoàng hậu và 2 con trai của ông cũng là nơi duy nhất mọi người được tham quan bên thung lũng các hoàng hậu. Xa xa còn có thung lũng của các quý tộc thời đó. Những thung lũng này chứa chấp nhiều lịch sử, nhiều hoàng kim cũng như đố kị sâu trong các lớp đất đá. Ở đó không có những kim tử tháp to lớn, phô trương, bởi nỗi sợ hãi không chỉ nằm ở kẻ thù mà còn gió cát sa mạc và nước sông Nile.

Thứ duy nhất uy quyền và thanh thế có lẽ là đền thờ Hapchepsut, nhưng không thuộc cả 2 nơi trên. Tôi vẫn luôn thích nói về Hapchepsut – một nữ Pharaoh đúng hiệu. Hapchepsut từ một công chúa trở thành hoàng hậu khi lấy chính em trai mình . Bà lên ngôi khi chồng chết, trị vì 21 năm (có nơi bảo 16) tới khi bị cháu trai – con riêng của chồng cũng là con rể bà lật quyền. Hapchepsut tự xây cho mình khu đền nằm ngoài thung lũng hoàng hậu, tựa lưng vào thung lũng nhà vua, nhìn ra sông Nile xanh ngắt. Ở đó tượng của bà nam tính, không tóc giả, váy mỏng như Neferiti hay Cleopatra – những người còn lại trong bộ ba nữ quyền của lịch sử Ai Cập cổ. Hapchepsut đội miện, quấn vải gọn gàng, y chang 1 Pharaoh thứ thiệt. Người đàn bà tham vọng này chẳng là vua, chẳng phải hoàng hậu, bà là tất cả.

400668_10150447640267007_1184606777_n

 Khí cầu bay cao lên, thế giới dưới chân rộng dần. Đã 5.000 mét, 6.000 mét, rồi 7.000 mét, tôi không tin nổi mình đã bay cao tới thế (dù vẫn chăm chăm nhìn vào máy đo độ cao). Không khí mát lành của một ngày mới ùa vào mắt, môi, lồng ngực. Khinh khí cầu ôm trọn một ngày mới. Nó khiến tôi lâng lâng tới cả khi đáp xuống giữa mênh mông sa mạc.

Qúa khứ chẳng bao giờ ngủ yên, trong gió cát vẫn còn những tiếng vọng từ ngàn xưa ¨Memnon, Memnon¨ thật da diết.

 

Posted in Vùng đất của những Pharaoh | 4 Comments